Content on this page requires a newer version of Adobe Flash Player.

Get Adobe Flash player

02:22 EDT Thứ năm, 02/10/2014

Danh mục

Thống kê truy cập

Đang truy cậpĐang truy cập : 2

Máy chủ tìm kiếm : 1

Khách viếng thăm : 1


Hôm nayHôm nay : 289

Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 843

Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 148606

Trang nhất » Văn bản hội

Tên / Số / ký hiệu : Đề cương tuyên truyền kỷ niệm 83 năm Ngày thành lập Hội Nông dân Việt Nam (14/10/1930 - 14/10/2013)
Về việc / trích yếu

Đề cương tuyên truyền kỷ niệm 83 năm Ngày thành lập Hội Nông dân Việt Nam (14/10/1930 - 14/10/2013)

Ngày ban hành 09/10/2013
Loại văn bản
Đơn vị / phòng ban
Lĩnh vực
Người ký duyệt
Cơ quan / đơn vị ban hành
Tải về máy Đã xem : 349 | Đã tải: 11
Nội dung chi tiết
ĐỀ CƯƠNG TUYÊN TRUYỀN KỶ NIỆM 83 NĂM
NGÀY THÀNH LẬP HỘI NÔNG DÂN VIỆT NAM
(14/10/1930 - 14/10/2013)
Phần I: Sự hình thành và phát triển của Hội Nông dân Việt Nam
1- Sự ra đời của Nông Hội đỏ, tiền thân của Hội Nông dân Việt Nam ngày nay
Vào đầu năm 1920sau khi dập tắt các cuộc khởi nghĩa của nông dân, thực dân Pháp tiến hành cướp đoạt gần 1 triệu ha ruộng đất của nông dân, địa chủ phong kiến chỉ với 2% dân số cả nước nhưng chiếm 51% ruộng đất canh tác. Nông dân chiếm trên 90% dân số nhưng chỉ có 36% ruộng đất, trong đó gần 60% số hộ không có ruộng đất.
Phong trào đấu tranh chống cướp đoạt ruộng đất, sưu thuế tô tức nặng nề của nông dân còn mang tính tự phát và bước đầu có sự lãnh đạo của các tổ chức tiền thân của Đảng Cộng sản Việt Nam hoặc Việt Nam Quốc Dân Đảng. Trong đấu tranh, giai cấp nông dân được tôi luyện trưởng thành và xuất hiện những người con ưu tú, hình thành nhiều tổ chức như: Phường lợp nhà, Phường hiếu hỉ, Phường tương tế... để bảo vệ quyền lợi của nông dân. Cuối thế kỷ XX, Nông hội đã xuất hiện ở một số địa phương.
Đầu năm 1930, Hội nghị thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam được tổ chức tại Cửu Long (Hương Cảng - Trung Quốc), đã nêu ra những vấn đề cơ bản đối với giai cấp nông dân: “Đảng phải đoàn kết được đại đa số nông dân, phải dựa vững vào nông dân nghèo làm cách mạng thổ địa đánh đổ bọn đại địa chủ và phong kiến”; Đồng thời, Đảng nhấn mạnh “Nông dân là lực lượng to lớn của cách mạng”. Vì vậy, phải tập hợp nông dân vào một tổ chức dưới sự lãnh đạo của giai cấp công nhân, đấu tranh giành độc lập tự do và thực hiện cách mạng ruộng đất.
Cao trào cách mạng 1930 - 1931, đỉnh cao là Xô Viết - Nghệ Tĩnh. Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo và dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Nông hội, nông dân cả nước đã vùng lên đấu tranh cùng với công nhân giành thắng lợi từng bước.
Hội nghị Trung ương Đảng tháng 10/1930 thông qua Nghị quyết về thành lập Tổng Nông hội Đông Dương (tên gọi đầu tiên của Hội Nông dân Việt Nam ngày nay). Điều lệ Tổng Nông hội Đông Dương gồm 8 điều trong đó nêu rõ mục đích nhằm “Thống nhất hết thảy Tổng Nông Hội Đông Dương để tranh đấu bênh vực quyền lợi hàng ngày của nông dân và để thực hiện cách mạng thổ địa”. Nghị quyết đã đánh dấu bước ngoặt quan trọng trong lịch sử giai cấp nông dân Việt Nam, sự trưởng thành và lớn mạnh về mọi mặt của phong trào nông dân dưới sự lãnh đạo của Đảng. Mặc dù về danh nghĩa Hội Nông dân Việt Nam vẫn chưa được thành lập, nhưng các tổ chức Nông hội vẫn tiếp tục hoạt động dưới hình thức tổ chức Nông Hội đỏ, tiền thân của Hội Nông dân Việt Nam ngày nay.
2- Hội Nông dân Việt Nam và cuộc vận động cách mạng giải phóng dân tộc (1930 - 1945)
Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ Hai, tháng 3 năm 1931 nhấn mạnh: Cần phải đẩy mạnh việc tổ chức Nông hội làng, tuyên truyền sâu rộng chủ trương của Đảng, đồng thời chỉ rõ: trong điều kiện địch khủng bố trắng, nông dân cùng các tầng lớp nhân dân đoàn kết đấu tranh, giương cao khẩu hiệu: chống sưu thuế, địa tô, chống nạn thất nghiệp, chống khủng bố trắng, chống cải lương lừa dối, chống chiến tranh. Thực hiện Nghị quyết Trung ương Hai, các tổ chức Nông hội được củng cố và trực tiếp lãnh đạo phong trào đấu tranh của nông dân. Dưới sự lãnh đạo của Nông hội, phong trào của nông dân diễn ra mạnh mẽ trong những năm 1932-1936.
Tháng 3 năm 1937, Trung ương Đảng đã họp, đề ra đường lối chính trị và phương pháp tổ chức mới, tên của các tổ chức Nông Hội thay Nông Hội đỏ. Chủ trương đúng đắn và kịp thời của Đảng đã giúp cho Nông hội khắp nơi trong nước phát huy vai trò của mình trong việc tập hợp, lãnh đạo nông dân hợp lực với công nhân và nhân dân lao động đấu tranh đòi quyền dân sinh, dân chủ.
Hình thức tổ chức của Nông hội rất đa dạng: Hội cấy, hội gặt, hội hiếu hỉ, hội góp họ, phường đi săn, hội chèo, nhóm học quốc ngữ... đã thu hút đông đảo nông dân đấu tranh giành quyền lợi của giai cấp mình.
Trong năm 1937, có hơn 150 cuộc đấu tranh của nông dân chống cướp ruộng đất, đòi chia ruộng công, giảm tô, tức, khất thuế... Từ tháng 01-11/1938, có 125 cuộc đấu tranh của nông dân với 55.442 người tham gia.
Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ Tám, tháng 5 năm 1941 khẳng định nhiệm vụ giải phóng dân tộc, tạm gác nhiệm vụ cách mạng ruộng đất thay bằng khẩu hiệu tịch thu ruộng đất của đế quốc, việt gian chia cho dân cày nghèo, thực hiện giảm tô, giảm tức; thành lập Mặt trận Việt Nam độc lập đồng minh (gọi tắt là Việt Minh); các đoàn thể lấy tên là Cứu quốc.
“Nông hội từ nay gọi là Việt Nam Nông dân cứu quốc hội, thu nạp hết thảy nông dân đến cả hạng phú nông, địa chủ muốn tranh đấu đuổi Pháp - Nhật”. Điều lệ Việt Nam Nông dân cứu quốc được Hội nghị tháng 5 năm 1941 thông qua gồm 11 điều.
Từ đầu năm 1941, dưới sự lãnh đạo trực tiếp của đồng chí Nguyễn Ái Quốc, nông dân các dân tộc Cao Bằng đã tổ chức những đoàn thể cứu quốc đầu tiên. Sau đó, nông dân từ miền ngược đến miền xuôi nô nức tham gia vào các đoàn thể của Mặt trận Việt Minh. Hội Nông dân cứu quốc là lực lượng to lớn của Mặt trật Việt Minh, đồng thời nông dân còn chiếm đại đa số trong hầu hết các tổ chức cứu quốc ở nông thôn như: thanh niên, phụ nữ ...tạo nên một lực lượng chính trị rộng lớn, áp đảo kẻ thù. Các tổ chức nông dân cùng với công nhân đã trở thành “xương sống” của Mặt trận. Từ các bản làng heo hút ở vùng rừng núi Việt Bắc đại ngàn xuống đến vùng châu thổ sông Hồng hay trong các thôn xóm của Trung kỳ, Nam kỳ, các đội tự vệ cứu quốc mà lực lượng chủ yếu là thanh niên nông dân ưu tú đã lần lượt ra đời làm nòng cốt cho phong trào đấu tranh của quần chúng.
Năm 1941 - 1942, dưới sự lãnh đạo của Nông hội, nông dân đã đấu tranh chống thu thóc, chống nhổ lúa trồng đay, nhổ ngô trồng thầu dầu... Từ năm 1943, với khẩu hiệu “Đoàn kết toàn dân đánh đuổi Nhật - Pháp”. Nông hội đã đưa nông dân tham gia vào các phong trào sôi nổi với những hình thức như biểu tình chống Nhật, vũ trang đánh Nhật… Sau ngày Nhật đảo chính Pháp (9/3/1945), phong trào ''Phá kho thóc Nhật giải quyết nạn đói'' đã lôi cuốn hàng triệu nông dân vùng lên đấu tranh trực diện với kẻ thù. Qua phong trào đấu tranh các tổ chức cứu quốc của nông dân càng phát triển mạnh mẽ, góp sức vào làn sóng khởi nghĩa từng phần đang nổi lên cuồn cuộn trong cả nước, làm tan rã từng mảng chính quyền cơ sở của phát xít, tay sai, tạo nên khí thế cách mạng sôi sục, đưa cả nước hừng hực bước vào cuộc Tổng khởi nghĩa tháng 8 năm 1945 thành công.
Thành công vĩ đại của Cách mạng tháng Tám là một minh chứng cho tinh thần, khả năng và vai trò cách mạng to lớn của nông dân với sự nghiệp cách mạng của dân tộc. Đồng thời, là một thắng lợi của sự lãnh đạo, chỉ đạo đúng đắn của Đảng đối với các tổ chức của giai cấp nông dân, thể hiện sự gắn bó giữa Đảng với nông dân, nông dân với Đảng.
3. Giai cấp nông dân Việt Nam và Hội Nông dân Việt Nam trong sự nghiệp xây dựng Xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc, đấu tranh giải phóng miền Nam chống đế quốc Mỹ xâm lược, thống nhất đất nước (1945 - 1975).
Trong điều kiện chiến tranh ngày càng lan rộng với mức độ gay go ác liệt hơn, nhiệm vụ kháng chiến càng đòi hỏi phải động viên toàn thể nông dân tham gia trên tất cả các mặt trận. Đảng và Nhà nước ta chủ trương thành lập Ban Nông vận Trung ương, kiện toàn tổ chức ở cấp Trung ương.
Ngày 06 tháng 8 năm 1949, Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã ra Nghị quyết số 02-NQ/TW về việc thành lập Ban Nông vận Trung ương, gồm 6 đồng chí: Hồ Viết Thắng - Ủy viên Trung ương Đảng làm Trưởng ban, Nguyễn Hữu Thái, Nguyễn Mạnh Hồng, Phạm Xuân Di, Trương Việt Hùng, Trần Đào.
Trụ sở đầu tiên của Ban Nông vận Trung ương đóng tại Bản Lá (Roòng Khoa), xã Điềm Mặc, Định Hóa - Thái Nguyên, sau chuyển sang thôn Tân Lập, xã Tân Trào, Sơn Dương - Tuyên Quang.
Với nhiệm vụ vận động nông dân: tăng gia sản xuất, tự cấp tự túc, nuôi dưỡng bộ đội, xây dựng hợp tác xã, hoàn thành giảm tô, thực hiện giảm tức, đào tạo cán bộ và thanh toán nạn mù chữ. Thực hiện chủ trương trên Hội nghị cán bộ nông dân toàn quốc lần thứ nhất họp từ ngày 28 tháng 11 đến ngày 07 tháng 12 năm 1949 tại thôn Phong Vân, xã Tân Tiến, huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang. Dự Hội nghị có đông đảo cán bộ đại diện cho tổ chức Hội Nông dân ba miền Bắc, Trung, Nam. Hội nghị đã tập trung kiểm điểm, đánh giá ưu, khuyết điểm của tổ chức Hội, phong trào nông dân, đặc biệt là đánh giá vai trò của tổ chức và hoạt động của phong trào nông dân từ khi cuộc kháng chiến toàn quốc bùng nổ.
Trong thư gửi Hội nghị, Chủ tịch Hồ Chí Minh đánh giá cao vị trí, vai trò và tiềm lực lớn lao của giai cấp nông dân cả nước trong đấu tranh giành chính quyền và sự nghiệp kháng chiến. Hội nghị đã nhất trí thành lập Hội Nông dân cứu quốc Trung ương (sau đổi tên là Ban Liên lạc Nông dân toàn quốc).
Lần đầu tiên trong lịch sử phong trào nông dân và Hội Nông dân Việt Nam, giai cấp nông dân có một tổ chức Hội ở cấp Trung ương, đáp ứng nguyện vọng của nông dân cả nước.
Ngày 16/4/1951 Ban Chấp hành Trung ương Đảng ban hành Nghị quyết số 09-NQ/TW về “Thành lập các ban và tiểu ban giúp việc”, trong đó có Tiểu ban Nông vận gồm có 8 đồng chí: Hồ Viết Thắng (Trưởng ban), Trương Việt Hùng, Nguyễn Hữu Thái, Trần Đức Thịnh, Phạm Xuân Dy, Nguyễn Mạnh Hồng, Nguyễn Ca, Trần Đào.
Phong trào nông dân từ sau Hội nghị toàn quốc lần thứ nhất có bước phát triển mới, toàn diện và rất mạnh mẽ. Để tiếp tục đánh giá phong trào nông dân và tổ chức Hội Nông dân. Ban Liên lạc nông dân toàn quốc quyết định triệu tập Hội nghị cán bộ nông dân toàn quốc lần thứ Hai (tháng 5/1951) tại thôn Quắc, xã Bình Nhân, huyện Chiêm Hoá, tỉnhTuyên QuangDự Hội nghị có hơn 100 đại biểu đại diện cho giai cấp nông dân cả nước. Hội nghị đánh giá phong trào nông dân, hoạt động của tổ chức Hội và quán triệt nhiệm vụ Hội Nông dân trước yêu cầu nhiệm vụ đưa cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp tới toàn thắng. Đồng chí Trường Chinh, Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng tới dự và phát biểu trước Hội nghị. Đồng chí Tổng Bí thư dành nhiều thời gian nói về Chính cương của Đảng, quan điểm của Đảng đối với nông dân và chính sách ruộng đất. Hội nghị đã tập trung quán triệt những nhiệm vụ mới của Đảng để lãnh đạo, chỉ đạo phong trào nông dân và xây dựng tổ chức Hội đáp ứng với những yêu cầu trước mắt.
Ở miền Bắc
Với tinh thần “Tất cả cho tiền tuyến, tất cả để chiến thắng”, nông dân đã hăng hái tham gia “Phong trào thi đua ái quốc sản xuất lập công đề cao chiến sĩ” do Đảng và Chính phủ phát động.
Hội Nông dân trong các vùng địch tạm chiếm đã tiến hành nhiều hình thức đấu tranh như bám ruộng đất, làng xóm để sản xuất; lên án hành động bắn phá, đốt hoa màu của địch; tranh thủ sản xuất, thu hoạch và cất dấu lương thực, thực phẩm ở vùng địch hậu trong cả nước để đảm bảo được nhu cầu của nhân dân mà còn đóng góp cho Nhà nước, phục vụ sự nghiệp kháng chiến.
Phong trào cách mạng của giai cấp nông dân và Hội Nông dân đã đóng góp phần quan trọng vào thắng lợi của các chiến dịch. Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ và thắng lợi của Hội nghị Giơnevơ năm 1954 về Đông Dương mở ra một thời kỳ mới của cách mạng Việt Nam. Hoà bình được lập lại ở Đông Dương, miền Bắc hoàn toàn giải phóng, bước vào thời kỳ quá độ, tiến lên chủ nghĩa xã hội.
Ở miền Nam
Được đế quốc Mỹ giúp sức, chính quyền Ngô Đình Diệm đã trắng trợn vi phạm Hiệp định Giơnevơ và tập trung sức củng cố bộ máy thống trị phản động, đẩy mạnh việc xây dựng quân đội ngụy làm lực lượng xung kích chống cộng và đàn áp nhân dân. Thực hiện chủ trương chuyển hướng đấu tranh của Đảng và Chính phủ, dưới sự lãnh đạo của các tổ chức Đảng ở nông thôn miền Nam, Nông hội vừa tích cực tổ chức, vận động nông dân chuẩn bị đấu tranh lâu dài, vừa khẩn trương tranh thủ thời gian trước khi bàn giao các địa bàn cho đối phương để củng cố sản xuất, ổn định đời sống. Nam Bộ và khu V tiếp tục đẩy mạnh việc chia cấp ruộng đất cho nông thôn nâng tổng số ruộng đất chia cho đồng bào lên 750.000ha cho 1.299.000 hộ nông dân.
Phong trào đấu tranh chính trị của nông dân miền Nam diễn ra hết sức mạnh mẽ, quyết liệt. Các làng, xã chiến đấu được hình thành và phát triển.
Ngày 20/12/1960, Đại hội đại biểu quốc dân miền Nam đã họp tại căn cứ Tây Ninh, tuyên bố thành lập Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam.
Ngày 21/4/1961, Hội Nông dân giải phóng miền Nam Việt Nam chính thức được thành lập và là thành viên của Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam. Sự ra đời của Hội là một mốc lịch sử đánh dấu sự phát triển của tổ chức Nông dân, mà trên thực tế hàng ngàn cơ sở Nông hội cứu quốc ở các khu, tỉnh, huyện, xã đã được phục hồi trong đồng khởi.
Tháng 01 năm 1969, Hội Nông dân giải phóng miền Nam Việt Nam đã tiến hành Đại hội nhằm tổng kết phong trào đấu tranh của nông dân trong tám năm, đồng thời quán triệt yêu cầu và nhiệm vụ mới của nông dân trong đấu tranh chống kế hoạch ''Bình định cấp tốc'' của địch. Đại hội đã biểu dương những thành tích to lớn của nông dân miền Nam trong việc phát triển thế trận chiến tranh du kích, đánh địch, bảo vệ vùng giải phóng, vùng căn cứ và là lực lượng chủ yếu trên mặt trận sản xuất, bảo đảm đời sống và cung cấp hậu cần cho bộ đội. Hội tập trung vận động, tuyên truyền nông dân thực hiện đúng đường lối kháng chiến chống Mỹ cứu nước của Đảng.
Thực hiện chủ trương của Đảng, lấy địa bàn nông thôn làm hướng tiến công chính, đánh mạnh vào kế hoạch “Bình định cấp tốc” của địch, giữ đất, giành dân, Hội Nông dân đã chủ động giáo dục hội viên khắc phục tư tưởng nôn nóng, thoát ly thực tế muốn thắng nhanh, đồng thời vạch rõ nhiệm vụ quan trọng nhất ở nông thôn là phải ''giành dân, giành đất, phát triển thế và lực của ta".
Nông dân liên tục nổi dậy phá rã, phá banh nhiều khu dồn dân, phá thế kìm kẹp, giành quyền làm chủ trên nhiều địa bàn quan trọng. Vùng giải phóng đã mở rộng tới sát Sài Gòn.
Ở đồng bằng Nam Bộ, nông dân nổi dậy mở thêm nhiều vùng, nhiều lõm giải phóng, nối các vùng giải phóng thành thế liên hoàn liên xã, liên huyện.
Thắng lợi của phong trào nông dân nổi dậy và cuộc tiến công chiến lược Xuân - Hè 1972 đã làm chuyển biến căn bản cục diện chiến tranh ở miền Nam và tiến tới "Tổng tấn công" mùa Xuân năm 1975 giành trọn vẹn thắng lợi, đất nước thống nhất, Nam - Bắc sum họp một nhà.
Từ ngày miền Nam được hoàn toàn giải phóng, Nông hội đã phát triển đều khắp, đã tích cực vận động nông dân thi hành chính sách của Đảng và Nhà nước ở nông thôn, góp phần đẩy mạnh phong trào thủy lợi, phát triển sản xuất, làm nghĩa vụ đối với Nhà nước, tăng cường đoàn kết trong nông dân, xây dựng chính quyền, giữ gìn an ninh chính trị, trật tự xã hội ở nông thôn. Tuy vậy, công tác Nông hội chưa có chuyển biến mạnh mẽ gắn liền với nhiệm vụ cải tạo và phát triển nông nghiệp theo hướng sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa. Các cấp ủy chưa chú trọng xây dựng tổ chức Nông hội và chưa chỉ đạo thật chặt chẽ công tác Nông hội. Thực hiện Nghị quyết Đại hội IV của Đảng và Nghị quyết Hội nghị lần thứ Hai (khóa IV) của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, ngày 12 tháng 12 năm 1977, Ban Bí thư đã ra Chỉ thị số 24-CT/TW về việc tăng cường công tác Nông hội ở các tỉnh miền Nam.
4- Hội Nông dân Việt Nam trong thời kỳ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
Phát huy vai trò của tổ chức Hội Nông dân trong sự nghiệp cách mạng và tiến tới Đại hội đại biểu nông dân toàn quốc.
Ngày 25/6/1977, Ban Bí thư ra Thông báo số 16- TB/TW về việc thành lập Ban Trù bị Đại hội đại biểu nông dân tập thể Trung ương.
Ngày 25/6/1979, Ban Bí thư quyết định tách Ban trù bị Đại hội đại biểu nông dân tập thể Trung ương (nằm trong Ban Nông nghiệp Trung ương) thành một cơ quan thuộc hệ thống các đoàn thể quần chúng và dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Ban Bí thư.
Ban Trù bị Đại hội đại biểu nông dân tập thể Trung ương (thực chất là một bộ phận của Ban Nông nghiệp Trung ương, do Ban Nông nghiệp chỉ đạo) nay lập thành một cơ quan độc lập có nhiệm vụ vừa thường xuyên chỉ đạo phong trào thực hiện những nhiệm vụ chính trị của Đảng, vừa giúp Ban Bí thư chuẩn bị Đại hội nông dân toàn quốc. Ban Bí thư chỉ định 3 đồng chí: Ngô Duy Đông (Trưởng ban), 2 đồng chí: Nguyễn Thành Thơ, Nguyễn Công Huế (Phó ban), đồng chí Lê Du là Ủy viên.
Ngày 27 / 9 /1979, Ban Bí thư ra Chỉ thị số 78- CT/TƯ về việc tổ chức Hội Liên hiệp nông dân tập thể Việt Nam. Để phát triển sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp và đoàn kết nông dân lao động, đưa nông thôn nước ta tiến lên chủ nghĩa xã hội, Bộ Chính trị đã quyết định thành lập tổ chức thống nhất của nông dân lao động trong cả nước, có hệ thống từ Trung ương đến cơ sở, lấy tên là Hội Liên hiệp Nông dân tập thể Việt Nam. Chỉ thị khẳng định Hội Liên hiệp Nông dân tập thể Việt Nam là tổ chức quần chúng rộng rãi của nông dân lao động trong cả nước, Hội có nhiệm vụ tập hợp, đoàn kết nông dân để giáo dục, vận động nông dân thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước ta, hoàn thiện quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc và cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với nông nghiệp miền Nam, đưa nông thôn tiến lên chủ nghĩa xã hội. Hội kết nạp tất cả nông dân hăng hái phấn đấu vào con đường làm ăn tập thể xã hội chủ nghĩa, theo nguyện tắc tự nguyện.
Hội Liên hiệp Nông dân tập thể Việt Nam được thành lập có ý nghĩa chính trị to lớn. Sau nhiều năm không có tổ chức Hội (ở miền Bắc) nay giai cấp nông dân cả nước có tổ chức thống nhất từ Trung ương xuống cơ sở.
Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân khác nhau, nông nghiệp nước ta chưa có những chuyển biến tích cực. Mô hình hợp tác xã nông nghiệp trong thời gian qua nay không còn phù hợp. Những hạn chế của nó đã dẫn đến những biểu hiện suy thoái trong phát triển sản xuất, những dấu hiệu khủng hoảng, bất hợp lý bộc lộ ngày càng rõ, đời sống nhân dân gặp nhiều khó khăn.
Từ thực tiễn kinh tế - xã hội, ở nông thôn đã xuất hiện những nhân tố mới thể hiện sự tìm tòi, sáng tạo của cán bộ cơ sở, như ở Hải Phòng, Vĩnh Phú. Trên cơ sở thực tiễn “khoán chui”, Đảng ta đã tổng kết và ra "Chỉ thị 100'' với nội dung cơ bản là "khoán sản phẩm", mở rộng khoán sản phẩm đến nhóm và người lao động. Chỉ thị 100 đã ''cởi trói'' cho phát triển kinh tế nông nghiệp, cải thiện đời sống nông dân. Tuy mới là giải pháp tình thế, nhưng "Khoán sản phẩm” đã có hiệu quả thực sự. Trong thời gian 1981-1985, nhờ hình thức khoán mới, sản xuất nông nghiệp tăng bình quân hàng năm 5% so với 2% của thời kỳ 1976-1980, sản xuất lương thực tăng bình quân hàng năm 6,5% so với 1,6% của thời kỳ 1976-1980.
Tổ chức Hội Nông dân cũng ngày càng được quan tâm hơn, ngày 29 tháng 9 năm 1981, Ban Bí thư ra Chỉ thị số 116-CT/TW về việc tăng cường sự lãnh đạo của các cấp uỷ Đảng đối với tổ chức và hoạt động của Hội Liên hiệp Nông dân tập thể Việt Nam. Quy định việc thành lập Hội đồng của Hội Liên hiệp nông dân tập thể ở từng cấp: Trung ương, tỉnh, huyện; cơ quan Thường trực của Hội đồng gắn với Ban Nông nghiệp của Đảng, là một bộ phận của Ban Nông nghiệp Trung ương, Ban Nông nghiệp tỉnh, thành phố (cả miền Bắc và miền Nam). Đồng thời, quyết định cho ban hành Điều lệ Hội Liên hiệp Nông dân tập thể Việt Nam quy định rõ tính chất, mục đích, nhiệm vụ của Hội và tổ chức Hội ở các cấp và Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ nhất Hội Liên hiệp Nông dân tập thể Việt Nam.
Quán triệt tinh thần đổi mới của Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng, nhằm đẩy mạnh các hoạt động của Hội Liên hiệp Nông dân tập thể Việt Nam, ngày 24 tháng 3 năm 1987, Ban Bí thư Trung ương Đảng đã ra Chỉ thị số 05/CT-TW về tổ chức Hội Liên hiệp Nông dân tập thể Việt Nam và Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ Nhất, Hội Liên hiệp Nông dân tập thể Việt Nam.
Ngày 01/3/1988, Ban Bí thư Trung ương Đảng đã ra Quyết định số 42-QĐ/TƯ về việc đổi tên Hội Liên hiệp Nông dân tập thể Việt Nam thành Hội Nông dân Việt Nam.
Tại phiên họp ngày 17/01/1991, Bộ Chính trị đã đồng ý lấy ngày 14 tháng 10 năm 1930 làm ngày kỷ niệm thành lập Hội Nông dân Việt Nam.
Ngày 20/ 5 /1991, Ban Bí thư đã ra Chỉ thị số 69-CT/TƯ về việc kỷ niệm 61 năm Ngày thành lập Hội Nông dân Việt Nam (14/10/1930 - 14/10/1991). Lần đầu tiên Hội Nông dân Việt Nam tổ chức mít tinh kỷ niệm trọng thể 61 năm Ngày thành lập tại Thủ đô Hà Nội, Tổng Bí thư Đỗ Mười tới dự và có bài phát biểu quan trọng.
Đến nay, Hội Nông dân Việt Nam đã qua VI kỳ Đại hội.
Đại hội đại biểu toàn quốc Hội Nông dân Việt Nam lần thứ Nhất tổ chức từ ngày 27- 29 / 3 /1988 tại Hội trường Ba Đình, Hà Nội.
Tham dự Đại hội có 613 đại biểu. Đại hội đã bầu Ban Chấp hành gồm 95 đồng chí và bầu 17 Ủy viên Ban Thường vụ. Nghị quyết của Đại hội đã khẳng định: Hội Nông dân Việt Nam là tổ chức chính trị - xã hội rộng lớn của giai cấp nông dân, đoàn kết chặt chẽ với các tổ chức thành viên khác trong Mặt trận Tổ quốc Việt Nam quyết tâm tiến theo con đường cách mạng do Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam đề ra.
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II Hội Nông dân Việt Nam họp từ ngày 15-19/11/1993 tại Hội trường Ba Đình, Hà Nội.
Dự Đại hội có 600 đại biểu. Đại hội đã bầu 77 đồng chí vào Ban Chấp hành và 14 Ủy viên Ban Thường vụ, đây là Đại hội “Đổi mới tổ chức, nội dung và phương thức hoạt động”, là Đại hội của trí tuệ và niềm tin, nơi hội tụ ý chí và nguyện vọng của giai cấp nông dân quyết tâm đổi mới và xây dựng Hội Nông dân Việt Nam vững mạnh về mọi mặt.
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III Hội Nông dân Việt Nam khai mạc từ ngày 17-20/11/1998 tại Cung Văn hóa Hữu nghị, Hà Nội.
Tham dự Đại hội có 700 đại biểu. Đại hội đã bầu 114 Ủy viên Ban Chấp hành, 19 Ủy viên Ban Thường vụ. Đại hội III có nhiệm vụ tiếp tục đổi mới và phát huy mạnh mẽ vai trò nòng cốt của Hội, tổ chức, động viên giai cấp nông dân phát huy nội lực, cần kiệm xây dựng đất nước, thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn.
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV Hội Nông dân Việt Nam được tổ chức từ ngày 22-25/11/2003 tại Cung Văn hóa Hữu nghị Hà Nội.
Tham dự Đại hội có 860 đại biểu. Đại hội đã bầu 120 Ủy viên Ban Chấp hành và 21 Ủy viên Ban Thường vụ. Đây là Đại hội ''Đoàn kết - Đổi mới - Dân chủ - Phát triển''.
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ V Hội Nông dân Việt Nam được khai mạc từ ngày 22-25/12/2008 tại Trung tâm Hội nghị Quốc gia, Mỹ Đình - Hà Nội.
Tham dự Đại hội có 1.175 đại biểu. Đại hội đã bầu 124 Ủy viên Ban Chấp hành và 21 Ủy viên Ban Thường vụ; Đại hội V là Đại hội ''Đoàn kết - Đổi mới - Hội nhập - Phát triển''.
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI Hội Nông dân Việt Nam được khai mạc từ ngày 30/6-03/7/2013 tại Trung tâm Hội nghị Quốc gia, Mỹ Đình - Hà Nội.
Tham dự Đại hội có 1.169 đại biểu. Đại hội đã bầu 122/125 Ủy viên Ban Chấp hành và 20/21 Ủy viên Ban Thường vụ; Đại hội VI là Đại hội ''Đoàn kết - Đổi mới - Chủ động - Hội nhập - Phát triển bền vững''
Đoàn kết, năng động, sáng tạo, xây dựng giai cấp nông dân vững mạnh, là chủ thể trong quá trình phát triển nông nghiệp, nông thôn; Hội Nông dân vững về chính trị, mạnh về tổ chức, thống nhất về hành động, là trung tâm và nòng cốt trong phong trào nông dân, góp phần vào công cuộc xây dựng nông thôn mới trong thời kỳ đất nước đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập kinh tế thế giới; tham gia có hiệu quả vào công tác xây dựng Đảng, chính quyền vững mạnh và khối đại đoàn kết dân tộc. Nâng cao vai trò đại diện; chăm lo nâng cao đời sống; bảo vệ lợi ích hợp pháp của hội viên, nông dân, góp phần cùng cả nước thực hiện thắng lợi mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh.
Phần II: Phong trào Nông dân và Hội Nông dân tỉnh Cao Bằng trên chặng đường 83 năm.
1. Phong trào Nông dân và Hội Nông dân Cao Bằng thời kỳ cách mạng dân tộc dân chủ (1930 -1975)
Cùng với sự ra đời, phát triển của tổ chức Hội Nông dân Việt Nam, Hội Nông dân tỉnh Cao Bằng cũng sớm được hình thành và có những đóng góp quan trọng cho quê hương, đất nước.
Vào năm 1930, nông dân Cao Bằng dưới sự lãnh đạo của Đảng đã trở thành lực lượng nòng cốt của cách mạng, tổ chức nông dân thành Hội dưới nhiều hình thức như hội ái hữu, hội tương tế, Nông Hội đỏ… Nông hội đỏ được thành lập ở châu Hòa An sau đó phát triển sang các châu Hà Quảng, Nguyên Bình. Nông hội đỏ là lực lượng nòng cốt trong các phong trào đấu tranh chống đi phu, sưu cao, thuế nặng của nông dân. Tiêu biểu là cuộc đấu tranh của hơn 300 nông dân thuộc các tổng: Tượng Yên, Nhượng Bạn, Hạ Đàm, Tĩnh Oa chống đi phu đường từ Thị xã lên Nước Hai vào vụ trồng ngô tháng 2 năm 1933.
Tháng 5 năm 1941 Mặt trận Việt Minh ra đời, các đoàn thể lấy tên là Cứu quốc và tổ chức Nông hội đỏ được đổi thành Việt Nam Nông dân cứu quốc hội. Việt Nam Nông hội cứu quốc tỉnh Cao Bằng đã tổ chức, vận động nông dân toàn tỉnh đem hết sức lực của mình bảo vệ thành quả cách mạng, ra sức củng cố, xây dựng và bảo vệ chính quyền non trẻ vừa giành được, sẵn sàng cùng với nhân dân cả nước đánh bại mọi kẻ thù xâm lược.
Năm 1945 - 1975 dưới sự lãnh đạo của Trung ương và Đảng bộ tỉnh, nông dân Cao Bằng đã có nhiều đóng góp quý báu cho sự nghiệp cách mạng. Tháng 10/1947, thực dân Pháp đổ bộ bằng đường không đánh chiếm Cao Bằng, nông dân đã tích cực tăng gia sản xuất với khẩu hiệu “một sào ruộng kháng chiến, những sào ruộng kháng chiến”, giải quyết khó khăn về lương thực cho bộ đội, du kích đánh giặc. Cùng với việc bảo vệ các cơ quan Đảng, chính quyền tỉnh, huyện, nông dân còn có nhiệm vụ ngăn cản các bước tiến của địch. Tham gia cùng các lực lượng tiến đánh và giành thắng lợi ở nhiều mặt trận, điển hình là chiến dịch biên giới năm 1950; giải phóng Cao Bằng ngày 03/10/1950.
Sau chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ, nông dân Cao Bằng đã tích cực tham gia thực hiện cuộc cách mạng dân tộc dân chủ, giải quyết vấn đề “Người cày có ruộng”, xóa bỏ tận gốc rễ chế độ áp bức bóc lột của thực dân phong kiến, xóa bỏ nghèo đói. Thông qua việc xây dựng các công trình thủy lợi, phổ biến và đưa tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất; xây dựng các hình thức hợp tác trong sản xuất… nhằm khôi phục nền kinh tế sau chiến tranh; đồng thời thực hiện cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với thành phần kinh tế cá thể, mà chủ yếu là cải tạo quan hệ sản xuất trong nông nghiệp theo đường lối của Đảng và lời kêu gọi của Hồ Chủ tịch… Nhằm phát triển kinh tế, xã hội theo con đường xã hội chủ nghĩa. Đến năm 1960 phong trào tổ đổi công, hợp tác xã và cải cách dân chủ ở Cao Bằng đã căn bản hoàn thành, nông dân phấn khởi tập trung vào phát triển sản xuất đạt hiệu quả cao. Đây là thời kỳ Cao Bằng vừa sản xuất vừa chiến đấu, ra sức khắc phục hậu quả chiến tranh do đế quốc Mỹ gây ra; đồng thời huy động một lực lượng lớn sức người, sức của cho chiến trường miền Nam xứng đáng là hậu phương lớn cho miền Nam đánh thắng giặc Mỹ xâm lược.
2. Phong trào nông dân và Hội nông dân Cao Bằng trong thời kỳ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Sau chiến thắng mùa xuân năm 1975, thực hiện đường lối cải tạo và phát triển nông nghiệp của Đảng và Nhà nước, nông dân Cao Bằng với truyền thống cần cù trong lao động, anh dũng trong chiến đấu đã tích cực sản xuất, xây dựng cuộc sống mới. Sản xuất nông nghiệp dựa trên sở hữu tập thể và sở hữu Nhà nước đã đem lại hiệu quả thiết thực.
Bước vào thời kỳ đổi mới, với việc xác định nội dung phương thức hoạt động cụ thể, trên cơ sở chủ trương, nghị quyết của Trung ương Đảng và các mục tiêu nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội của địa phương, Hội Nông dân tỉnh Cao Bằng đã tuyên truyền, vận động, đoàn kết, tập hợp nông dân thực hiện tốt các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước; hăng hái thi đua lao động sản xuất, phát triển kinh tế, ổn định cuộc sống; góp phần đảm bảo an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn và củng cố, xây dựng tổ chức Hội vững mạnh về mọi mặt.
Trải qua 7 kỳ đại hội - mỗi kỳ đại hội là một mốc son đánh dấu sự phát triển, trưởng thành của tổ chức Hội và phong trào nông dân toàn tỉnh; khẳng định vai trò, vị thế của tổ chức Hội và lực lượng nông dân trong xã hội. Đại hội đại biểu Hội Nông dân tỉnh Cao Bằng lần thứ VII đã đánh giá một cách đầy đủ tổng quát về những thành tựu trong công tác Hội và phong trào nông dân sau gần 30 năm thực hiện đường lối đổi mới của Đảng. Nghị quyết Đại hội xác định nhiệm vụ của nhiệm kỳ 2013 - 2018 là: Xây dựng tổ chức Hội vững mạnh, có đủ năng lực tập hợp, đoàn kết, phát huy sức mạnh của lực lượng nông dân tham gia phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng nông thôn mới; đẩy mạnh các phong trào thi đua trong nông dân, tăng cường hỗ trợ hội viên, nông dân phát triển sản xuất, kinh doanh nâng cao thu nhập, cải thiện đời sống, giảm nghèo bền vững; làm tốt vai trò bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của hội viên, nông dân; nâng cao trình độ, nhận thức, bản lĩnh chính trị, giúp cho cán bộ, hội viên nông dân nắm vững và thực hiện có hiệu quả các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; có kiến thức, kinh nghiệm và năng lực tiếp thu khoa học kỹ thuật để phát triển sản xuất hàng hóa, tham gia làm chủ nông thôn mới.
Thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu Hội Nông dân tỉnh lần thứ VII, trong thời gian qua, các cấp Hội đã tập trung tuyên truyền, vận động hội viên nông dân thực hiện tốt chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của nhà nước như: Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI, Nghị quyết số 26 Hội nghị Trung ương 7 (khóa X) về nông nghiệp, nông dân, nông thôn, Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Cao Bằng lần thứ XVII, Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc Hội Nông dân lần thứ VI, Đại hội Hội Nông dân tỉnh Cao Bằng lần thứ VII… đến 100% cơ sở Hội và 95% hội viên nông dân; 100% thôn bản có nông dân đều có tổ chức Hội được sắp xếp ổn định và hoạt động có hiệu quả. Chất lượng cơ sở Hội và hội viên không ngừng được nâng lên, kết quả xếp loại khá và vững mạnh hàng năm đều vượt chỉ tiêu.
Công tác tuyên truyền, giáo dục chính trị, tư tưởng trong cán bộ, hội viên nông dân luôn được các cấp Hội quan tâm đẩy mạnh với nhiều nội dung, hình thức phong phú. Đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên cơ sở thường xuyên được nâng cao về chất lượng. Trong đó nổi bật là hoạt động tuyên truyền về chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới; Kết luận số 61 - KL/TW, ngày 03/12/2009 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về Đề án “Nâng cao vai trò, trách nhiệm của Hội Nông dân Việt Nam trong phát triển nông nghiệp, xây dựng nông thôn mới và xây dựng giai cấp nông dân Việt Nam giai đoạn 2010 - 2020” và Quyết định số 673/QĐ - TTg, ngày 10/5/2011 của Thủ tướng Chính phủ về việc “Hội Nông dân Việt Nam trực tiếp trực tiếp thực hiện và phối hợp thực hiện một số chương trình, đề án phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội nông thôn giai đoạn 2011 - 2020”
Phong trào thi đua sản xuất kinh doanh giỏi đoàn kết giúp nhau làm giàu và giảm nghèo bền vững đã thật sự đi vào cuộc sống của nông dân, là động lực để phát triển kinh tế - xã hội nông thôn, hộ khá giàu ngày cành tăng, hộ nghèo đói ngày càng giảm, đến nay toàn tỉnh có hơn 42.005 hộ nông dân đạt danh hiệu sản xuất - kinh doanh giỏi các cấp, nhiều hộ có mức thu nhập hàng trăm triệu đồng mỗi năm. 9 tháng đầu năm 2013, đã có 39.210 hộ đăng ký phấn đấu đạt danh hiệu nông dân  SXKDG các cấp; các cấp Hội đã vận động, quyên góp được 980 triệu đồng, tổ chức thăm, tặng quà các gia định hội viên nghèo, gia đình chính sách được 318 lượt người, giúp đỡ 5.600 công lao động, cho vay không tính lãi trên 1.400 triệu đồng, ủng hộ thóc, gạo, cây, con trên 500 triệu đồng, mỗi chi Hội đăng ký giúp đỡ một hộ thoát nghèo; các cấp Hội và cán bộ, hội viên nông dân quyên góp ủng hộ mua 37 con bò trị giá trên 350 triệu đồng cho hội viên nông dân có hoàn đặc biệt khó khăn.
Phong trào nông dân thi đua xây dựng nông thôn mới được các cấp Hội quan tâm triển khai thực hiện. Trong đó tập trung vào việc tuyên truyền, vận động hội viên, nông dân tích cực ủng hộ sức người, sức của thực hiện các mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới; đồng thời tuyên truyền, vận động cán bộ, hội viên, nông dân tích cực hưởng ứng phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư”…9 tháng đầu năm có 63.915 hộ đăng ký thi đua xây dựng gia đình nông dân văn hóa; mở 02 lớp tuyên truyền tuyên truyền về chương trình xây dựng nông thôn mới cho 100 cán bộ hội viên nông dân tại huyện Quảng Uyên và Trà Lĩnh; có 8/13 huyện tổ chức thành công Hội thi “Tiếng hát đồng quê, Thôn nữ giỏi giang - duyên dáng”; vận động hội viên nông dân tham gia tu sửa, làm đường nông thôn, sửa chữa kênh mương thủy lợi, xây dựng nhà văn hóa xóm, sửa chữa trường, lớp học được 72.390 công lao động và đóng góp được 80 triệu đồng.
Phong trào nông dân tham gia đảm bảo quốc phòng và an ninh tiếp tục phát triển cả chiều sâu và bề rộng góp phần đấu tranh làm thất bại mọi hoạt động phá hoại của kẻ địch, phòng ngừa và ngăn chặn có hiệu quả mọi hoạt động của các loại tội phạm và các tệ nạn xã hội. Thực hiện tốt công tác vận động thanh niên thi hành luật nghĩa vụ quân sự, giao quân hàng năm đều đạt chỉ tiêu.
Về tổ chức các hoạt động dịch vụ, dạy nghề, tư vấn, hỗ trợ nông dân
- Các hoạt động, dịch vụ hỗ trợ, giải quyết nhu cầu về vốn đầu tư phát triển sản xuất, ổn định đời sống của nông dân được các cấp Hội chú trọng thực hiện thông qua việc đẩy mạnh và nâng cao hiệu quả hoạt động của Quỹ hỗ trợ nông dân; thực hiện chương trình phối hợp với Ngân hành chính sách xã hội, Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn; huy động khai thác các nguồn vốn đầu tư qua các chương trình, dự án triển khai tại địa bàn…
Tính đến 30/7/201, các cấp Hội đã phối hợp với Ngân hàng Chính sách xã hội nhận ủy thác cho nông dân vay vốn với dư nợ ngày càng lớn, tổng dư nợ là 504.461 triệu đồng (chiếm 1/3 tổng nguồn vốn của Chi nhánh NHCSXH tỉnh Cao Bằng), với 23.785 hộ vay, xây dựng được 895 tổ tiết kiệm và vay vốn; phối hợp với Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn thành lập được 158 tổ vay vốn, với 2.518 hộ vay, dư nợ đạt trên 38 tỷ đồng; Vận động ủng hộ xây dựng, phát triển Quỹ Hỗ trợ nông dân tạo điều kiện thuận lợi cho hội viên, nông dân vay phát triển kinh tế, xóa đói giảm nghèo, đến nay các cấp Hội đang quản lý 1.126 mô hình, dự án vay từ Quỹ hỗ trợ nông dân với tổng số vốn vay là 19.439.868.000 đồng, 3.546 lượt hộ vay với mức phí hợp lý, giúp cho hàng nghìn nông dân có việc làm và thu nhập ổn định. Có nhiều mô hình điển hình trong sản xuất kinh doanh, như: Sản xuất vật liệu xây dựng tại xã Thanh Nhật, huyện Hạ Lang; Chăn nuôi lợn nái tại xã Hồng Việt, huyện Hòa An và phường Tân Giang, Thành phố Cao Bằng…
Trung tâm dạy nghề và hỗ trợ nông dân tỉnh Cao Bằng trực tiếp tổ chức 02 lớp dạy nghề trồng trọt cho 60 hội viên nông dân tại Hòa An và thành phố Cao Bằng.
Qua 83 năm xây dựng và trưởng thành, giai cấp nông dân Việt Nam nói chung, nông dân Cao Bằng nói riêng đã có những đóng góp to lớn trong sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc, trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Trải qua các thời kỳ cách mạng, được Đảng, Bác Hồ lãnh đạo, dìu dắt, Hội Nông dân Việt Nam không ngừng lớn mạnh và trưởng thành, lãnh đạo giai cấp nông dân, liên minh chặt chẽ với giai cấp công nhân và đội ngũ trí thức thành một khối vững chắc, làm nòng cốt cho các phong trào cách mạng ở tỉnh nhà. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, Hội Nông dân Cao Bằng đã phát huy được vai trò, chức năng, nhiệm vụ của mình, tuyên truyền vận động nông dân tham gia vào các phong trào hành động cách mạng, thực hiện có hiệu quả đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, góp phần xứng đáng vào việc thực hiện thắng lợi các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước của tỉnh nhà.
Với những thành tích đã đạt được trong quá trình cống hiến, xây dựng và trưởng thành 83 năm qua, Nông dân và Hội Nông dân Việt Nam đã được Đảng, Nhà nước, Chính phủ và các bộ, ngành tặng thưởng nhiều phần thưởng cao quý. Cùng với cả nước, nông dân và Hội Nông dân Cao Bằng, cán bộ, hội viên nông dân trong tỉnh đã được Chính phủ, các bộ ngành, Trung ương Hội Nông dân Việt Nam, UBND tỉnh và các cấp chính quyền tặng nhiều bằng khen, cờ thi đua xuất sắc, nhiều huy chương và kỷ niệm chương. Đặc biệt năm 2003 Hội Nông dân tỉnh Cao Bằng đã vinh dự được Nhà nước tặng thưởng huân chương lao động hạng ba, năm 2011 được tặng thưởng bằng khen của Thủ tướng Chính phủ.
Giai cấp nông dân Cao Bằng trong bất kỳ hoàn cảnh nào cũng luôn giữ vững niềm tin tuyệt đối với sự nghiệp cách mạng của Đảng, của Bác Hồ đã chọn; đoàn kết một lòng, đoàn kết giai cấp và các tầng lớp nhân dân, tạo nên khối công nông trí thức gắn bó máu thịt và bền vững, góp phần xây dựng nên mặt trận dân tộc thống nhất trong các thời kỳ cách mạng.
Phát huy truyền thống tốt đẹp và những thành tích đạt được qua 83 năm xây dựng, trưởng thành, các cấp Hội Nông dân trong tỉnh tiếp tục đoàn kết, nỗ lực vượt qua khó khăn, khẳng định vai trò, vị trí của mình luôn là chỗ dựa vững chắc của Đảng, chính quyền và của giai cấp nông dân, đưa đường lối chủ trương của Đảng đến với người dân, nhất là những vấn đề về nông dân, nông nghiệp, nông thôn, góp phần thực hiện thắng lợi công cuộc xây dựng và phát triển quê hương trong thời kỳ đổi mới./.
 

Danh mục văn bản

Văn bản mới