Thứ nhất, phát huy quyền làm chủ của Nhân dân thông qua uỷ quyền. Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, yếu tố cốt lõi và xuyên suốt là quyền lực nhà nước là thống nhất và thuộc về Nhân dân, thể hiện lợi ích và nguyện vọng chính đáng cùa Nhân dân: “Nhân dân là ông chủ nắm chính quyền. Nhân dân bầu ra đại biểu thay mặt mình thi hành chính quyền ấy. Thế là dân chủ”.
Thứ hai, phát huy quyền làm chủ của Nhân dân thông qua quyền phúc quyết Hiến pháp và quyết định những vẩn đề hệ trọng của quốc gia: Hiến pháp năm 1946 do Chủ tịch Hồ Chí Minh trực tiếp làm Trưởng ban soạn thảo, quy định rất rõ nguyên tắc này: “Nhân dân có quỵền phúc quyết về Hiến pháp và những việc quan hệ đến vận mệnh quốc gia” (Điều 21, Mục B, về Quyền lợi); “Những việc quan hệ đến vận mệnh quốc gia sẽ đưa ra Nhân dân phúc quyết, nếu hai phần ba tổng sổ nghị viên đồng ý. Cách thức phúc quyết do luật định” (Điều 32, Mục c, phần I về Bầu cử, bãi miễn và phúc quyết). Điều này đã xác lập quyền lực của Nhân dân trong tham gia, quyết định công việc của Nhà nước. Nhân dân sử dụng quyền phúc quyết như một công cụ nhằm yêu cầu các cơ quan có thẩm quyền phải tổ chức hoạt động phúc quyết để người dân tham gia vào quá trình đóng góp ý kiến trong xây dựng cũng như các vấn đề hệ trọng khác của quốc gia.
Thứ ba, phát huy quyền làm chủ của Nhân dân thông qua quyền được kiểm tra, đôn đốc, phê bình. Người nói: “có kiểm tra mới huy động được tinh thần tích cực và lực lượng to tát của Nhân dân. mới biểt rõ năng lực và khuyết điểm của cán bộ mới sửa chữa và giúp đỡ kịp thời”. Đây chính là phương thức tốt nhất nhằm phát huy tính tích cực, sức sáng tạo. trách nhiệm, sự chủ động của Nhân dân khi tham gia vào các công việc chung của đất nước, góp phần giúp Nhà nước nắm bắt được tâm tư, nguyện vọng của Nhân dân. Từ đó có những điều chỉnh, đưa ra chính sách theo hướng đặt lợi ích của Nhân dân lên hàng đầu, bào đảm được quyền làm chủ thực sự của Nhân dân.
Thứ tư, phát huy quyền làm chủ của Nhân dân thông qua quyền được khiếu nại tố cáo. Khiếu nại, tố cáo là phương thức kiểm tra tính đúng đắn, phù hợp của các chính sách, pháp luật của Nhà nước. Người khẳng định: “Nếu cán bộ địa phương có điều gì sai lầm, nếu đồng bào có việc gì oan ức thì đồng bào phái đại biểu đến trình bày với tôi và Chính phủ. Tôi bảo đảm rằng tôi và Chính phủ sẽ trừng trị những cán bộ có lỗi, và sẽ làm cho đông bào khỏi oan ức”.
Thứ năm, phát huy quyền làm chủ của Nhân dân thông qua quyền bãi miễn. Đây là nấc thang cao nhất trong tư tưởng Hồ Chí Minh về phát huy quyền làm chủ của Nhân dân, cho phép Nhân dân loại bỏ ngay những người không xứng đáng mà không cần chờ đến nhiệm kỳ bầu cử mới. Người khàng định: “Nhân dân có quyền bãi miễn đại biêu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân nếu những đại biểu ấy tỏ ra không xứng đáng với sự tín nhiệm của Nhân dân. Nguyên tắc ấy bảo đảm quyền kiểm soát của Nhân dân đối với đại biểu của mình”.
Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, lực lượng làm nên thành công của cách mạng chính là toàn thể quần chúng nhân dân. Trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn đặt nông dân và nông thôn vào vị trí trung tâm trong mọi chiến lược phát triển. Điều này càng trở nên có ý nghĩa đặc biệt trong giai đoạn hiện nay, khi Việt Nam triển khai xây dựng nông thôn mới. Tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ trong xây dựng nông thôn mang nội hàm sâu sắc, không chỉ giới hạn trong việc phát triển hạ tầng kinh tế, mà còn bao hàm cả các lĩnh vực văn hóa, xã hội, giáo dục, y tế, môi trường và xây dựng con người mới. Đối với Người, phát triển nông thôn không chỉ là xây dựng làng xóm khang trang, mà cốt lõi là nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân.

Cao Bằng là tỉnh miền núi biên giới phía Bắc, địa hình phức tạp, dân cư phân bố không đồng đều, tỷ lệ đồng bào dân tộc thiểu số cao, điều kiện phát triển kinh tế - xã hội còn nhiều khó khăn. Trong bối cảnh đó, việc triển khai chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới là một thách thức lớn. Tuy nhiên, với sự nỗ lực của cả hệ thống chính trị và sự đồng thuận của người dân, sau hơn 15 năm triển khai, tỉnh Cao Bằng đã đạt được nhiều kết quả quan trọng, phát huy quyền làm chủ của Nhân dân trong việc xây dựng Nông thôn mới tại địa phương.
Thông qua Ban Chỉ đạo cấp tỉnh và Ban Quản lý xây dựng nông thôn mới cấp xã, chính quyền địa phương, người dân được tham gia vào các hoạt động như đóng góp ý kiến, hiến đất, ngày công lao động, và tham gia vào các hoạt động sản xuất, kinh doanh để nâng cao đời sống. Nhân dân được tham gia ý kiến về các chỉ tiêu đề ra để đạt được các tiêu chí xây dựng nông thôn mới tại địa phương mình. Đồng thời, Nhân dân thông qua quyền được kiểm tra, đôn đốc và phê bình, các địa phương xây dựng các bảng kết quả lấy ý kiến sự hài lòng của người dân về kết quả xây dựng nông thôn mới của địa phương, được niêm yết công khai tại trụ sở xã và nhà văn hóa tổ dân phố, khu dân cư thuận tiện cho người dân theo dõi, có ý kiến phản hồi.
Thành lập Ban giám sát cộng đồng do Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp xã chủ trì cho từng chương trình, phối hợp cùng thanh tra nhân dân và đại diện người dân trên địa bàn. Ban giám sát đầu tư cộng đồng là cầu nối giữa nhân dân và chính quyền, giúp người dân thực hiện quyền làm chủ của mình trong quá trình xây dựng nông thôn mới. Thông qua hoạt động giám sát, người dân tham gia vào quá trình xây dựng nông thôn mới, từ đó tạo sự đồng thuận, gắn kết cộng đồng, và tăng cường niềm tin vào đường lối của Đảng và chính quyền địa phương.
Diện mạo nông thôn từng bước đổi thay theo hướng hiện đại, văn minh. Đến nay, toàn tỉnh có 17 xã được công nhận đạt chuẩn nông thôn mới theo Bộ tiêu chí nông thôn mới giai đoạn 2016 - 2020 thì chỉ có 06 xã đảm bảo duy trì theo Bộ tiêu chí nông thôn mới giai đoạn 2021 - 2025, gồm: Xã Hoàng Tung, huyện Hoà An; xã Lê Lai, Đức Long huyện Thạch An; xã Hưng Đạo, Vĩnh Quang, Chu Trinh và thành phố Cao Bằng, chưa có xã đạt chuẩn nông thôn mới kiểu mẫu. Hệ thống hạ tầng kinh tế - xã hội ở nhiều nơi được đầu tư đồng bộ, từ giao thông, điện, trường học đến các thiết chế văn hóa, thể thao. Sản xuất nông nghiệp từng bước được cơ cấu lại theo hướng ứng dụng khoa học kỹ thuật, gắn với thị trường. Thu nhập và đời sống của người dân nông thôn không ngừng được cải thiện. Các tiêu chí về môi trường, an ninh trật tự, giáo dục, y tế, văn hóa... đều có những bước tiến rõ rệt. Đặc biệt, tinh thần đoàn kết, tự quản, tự lực tự cường trong cộng đồng được nâng lên.

Tuy nhiên, trên thực tế, việc phát huy quyền làm chủ của nhân dân vẫn còn những mặt hạn chế. Một bộ phận người dân còn thụ động, chưa thật sự chủ động đóng góp ý kiến, giám sát và phản biện xã hội. Nguyên nhân có thể đến từ sự thiếu minh bạch trong thông tin; sự hình thức trong tổ chức các buổi họp dân, tiếp xúc cử tri; hoặc việc một số cấp chính quyền chưa thực sự lắng nghe và tiếp thu ý kiến người dân. Cũng có nơi, quyền được thụ hưởng của người dân chưa được bảo đảm công bằng. Một số dự án xây dựng cơ sở hạ tầng tuy đầu tư lớn nhưng chưa phù hợp nhu cầu thực tế, thiếu sự tham gia từ đầu của người dân trong quá trình lập kế hoạch. Cơ chế tiếp nhận phản ánh và giám sát của cộng đồng chưa được phát huy đúng mức, hoạt động của ban giám sát đầu tư cộng đồng còn hạn chế về hiệu quả và .
Để nâng cao hiệu quả của chương trình xây dựng nông thôn mới và bảo đảm phát huy thực chất quyền làm chủ của nhân dân theo tư tưởng Hồ Chí Minh, tỉnh Cao Bằng cần thực hiện đồng bộ một số giải pháp sau:
Trước hết, cần tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục nhận thức về vai trò, vị trí của nhân dân trong tiến trình xây dựng nông thôn mới. Việc nâng cao nhận thức phải bắt đầu từ cán bộ cấp cơ sở, những người trực tiếp tiếp xúc với dân. Cán bộ phải hiểu rằng dân chủ không phải là ban phát mà là quyền tự nhiên, chính đáng của nhân dân. Chính quyền các cấp phải thực sự cầu thị, lắng nghe và đồng hành cùng người dân. Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội cần phát huy mạnh vai trò là cầu nối giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân, tích cực vận động, khơi gợi và khơi thông nguồn lực trong dân, thúc đẩy phong trào tự quản, tự phát triển ở từng thôn bản.
Thứ hai, việc thực hiện phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng” phải được thể chế hóa thành quy trình hành động rõ ràng. Mọi thông tin về quy hoạch, kế hoạch, ngân sách, tiêu chí xây dựng nông thôn mới phải được công khai minh bạch đến từng hộ dân. Người dân phải được tham gia bàn bạc và quyết định các vấn đề quan trọng như lựa chọn công trình ưu tiên, hình thức hỗ trợ, nguồn lực đóng góp. Sau khi thực hiện, người dân có quyền và có điều kiện giám sát, kiểm tra chất lượng, tiến độ và hiệu quả của công trình.
Thứ ba, cần phát huy nội lực của cộng đồng trong thực hiện chương trình. Việc phân công nhiệm vụ cụ thể theo năng lực của từng hộ gia đình, từng nhóm dân cư sẽ tăng tính gắn kết và trách nhiệm. Cần khuyến khích người dân hiến đất, góp công, góp của, đóng góp sáng kiến. Xây dựng và nhân rộng các mô hình tự quản như tổ liên gia, tổ môi trường, tổ an ninh trật tự, tổ sản xuất liên kết… để người dân chủ động bảo vệ, khai thác và phát huy hiệu quả các công trình đã hoàn thành. Đồng thời, cần có cơ chế hỗ trợ hợp lý để bảo đảm các nhóm yếu thế, các vùng khó khăn cũng được tham gia bình đẳng và thụ hưởng công bằng.
Thứ tư, cơ chế giám sát và phản biện xã hội phải được hoàn thiện. Các ban giám sát cộng đồng cần được đào tạo, củng cố về tổ chức, tăng tính độc lập và khách quan trong hoạt động. Cần thiết lập các kênh tiếp nhận thông tin phản ánh từ nhân dân như đường dây nóng, hộp thư góp ý, diễn đàn công khai, họp dân định kỳ… Các phản ánh, kiến nghị cần được xử lý kịp thời, công khai kết quả, để tạo dựng niềm tin và nâng cao trách nhiệm của chính quyền.
Cuối cùng, mọi thành quả của chương trình xây dựng nông thôn mới phải được phân phối công bằng, hướng tới cải thiện thực chất chất lượng sống của người dân. Không chỉ là đường làng, trường học, nhà văn hóa, mà còn là thu nhập, y tế, giáo dục, môi trường và giá trị văn hóa cộng đồng. Người dân không chỉ được sử dụng mà còn là người bảo vệ, duy trì và phát huy các giá trị đó, từ đó tạo ra một chu trình phát triển bền vững, liên tục và tự giác.
Tư tưởng Hồ Chí Minh về phát huy quyền làm chủ của nhân dân là một di sản tư tưởng lớn có giá trị trường tồn. Việc vận dụng tư tưởng ấy vào thực tiễn xây dựng nông thôn mới tại tỉnh Cao Bằng đã mang lại nhiều kết quả tích cực, góp phần quan trọng vào sự thay đổi diện mạo nông thôn và nâng cao đời sống nhân dân. Tuy nhiên, để chương trình này thực sự phát triển bền vững, cần tiếp tục quán triệt sâu sắc tư tưởng của Người, biến tinh thần dân chủ từ lý luận thành hành động cụ thể, từ khẩu hiệu thành kết quả thực tế. Chỉ khi nào người dân thật sự là chủ thể, là người kiến tạo và gìn giữ thành quả, thì phong trào xây dựng nông thôn mới mới trở thành phong trào sâu rộng, bền vững, lan tỏa khắp mọi vùng quê, mọi ngõ xóm – đúng như tâm nguyện suốt đời của Bác Hồ kính yêu.
Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia-Sự thật, Hà Nội, 2011, t. 9, tr 258
Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.8,tr263
Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.5, tr.636.
Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.6, tr.466.
Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.12, tr.375.